Hotline: 0909 024 013 | Email: Lienhe@PLEMS.edu.vn

4 CÁCH ĐỂ PHÁT TRIỂN SỰ SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH

Sự sáng tạo là kỹ năng tư duy khó để đạt được nhất, và đây cũng là kỹ năng được tìm kiếm nhiều nhất. Chúng ta đánh giá nó qua âm nhạc, giải trí, công nghệ và những khía cạnh khác trong sự tồn tại của chúng ta. Chúng ta đánh giá cao và khao khát vì nó làm phong phú thêm sự hiểu biết của chúng ta và khiến cuộc sống dễ dàng hơn.

Sự sáng tạo luôn bắt đầu bằng trí tưởng tượng, và lịch sử đã chỉ ra rằng có rất nhiều thứ đã được tạo ra từ sự tưởng tượng. Gene Roddenberry từng tưởng tượng các thiết bị giao tiếp lật trong phim Star Trek vào năm 1966, và Motorola đã sản xuất ra chúng vào năm 1996. Vào giữa những năm 1800, Augusta Ada King đã hình dung ra một ngôn ngữ cho các máy tính thậm chí còn chưa tồn tại; ngày nay bà ấy được vinh danh là người sáng lập ra ngôn ngữ lập trình hiện đại.

Khi Benjamin Bloom xác định cái mà ông gọi là hệ phân tầng các loại tư duy, ông đã xếp tổng hợp (sáng tạo) là một trong những kỹ năng khó thành thạo nhất vì một người phải sử dụng tất cả các kỹ năng tư duy khác trong quá trình sáng tạo. Kể từ đó, theo Bloom, sáng tạo là trật tự cao nhất của tư duy, nó phải được đặt lên hàng đầu trong tất cả các môi trường học tập và là mục tiêu cuối cùng. Khi mà học sinh tạo ra những gì chúng tưởng tượng, chúng đang ở vị trí kiểm soát.

𝐒𝐮̛̣ 𝐬𝐚́𝐧𝐠 𝐭𝐚̣𝐨 𝐭𝐫𝐨𝐧𝐠 𝐥𝐨̛́𝐩 𝐡𝐨̣𝐜
Khi thiết kế trải nghiệm học tập, giáo viên có thể lập kế hoạch, khung chương trình giảng dạy và cung cấp các công cụ để cho học sinh quyền lựa chọn và đưa ra tiếng nói của mình để khuyến khích chúng sáng tạo. Trong công việc tại trường, tôi đã tìm ra được bốn điều mà những giáo viên thực hiện thành công để phát triển sự sáng tạo cho học sinh của họ.

1. 𝐓𝐚̣𝐨 𝐝𝐮̛̣𝐧𝐠 𝐧𝐡𝐮̛̃𝐧𝐠 𝐡𝐨𝐚̣𝐭 đ𝐨̣̂𝐧𝐠 𝐡𝐨̣𝐜 𝐭𝐚̣̂𝐩 𝐜𝐡𝐨 𝐩𝐡𝐞́𝐩 𝐡𝐨̣𝐜 𝐬𝐢𝐧𝐡 𝐤𝐡𝐚́𝐦 𝐩𝐡𝐚́ 𝐬𝐮̛̣ 𝐬𝐚́𝐧𝐠 𝐭𝐚̣𝐨 𝐛𝐚̆̀𝐧𝐠 𝐧𝐡𝐮̛̃𝐧𝐠 𝐜𝐚́𝐜𝐡 𝐩𝐡𝐮̀ 𝐡𝐨̛̣𝐩, 𝐭𝐡𝐮́ 𝐯𝐢̣ 𝐯𝐚̀ 𝐜𝐨́ 𝐠𝐢𝐚́ 𝐭𝐫𝐢̣. Ví dụ lớp học: Học sinh lớp 4 được giới thiệu một mẫu đá. Các em phải đưa ra cách kiểm tra để xác định loại đá dựa trên những định nghĩa mà các em đã học. Học sinh sẽ tìm cách riêng của mình để chỉ ra sự khác biệt về độ cứng, màu sắc và hình dạng.

Một ví dụ khác: Một lớp mẫu giáo sáng tạo một cuốn sách minh họa mới mỗi tuần để chúc mừng các thành viên khác nhau của lớp hoặc một người lớn trong trường. Mỗi cuốn sách là những trang được vẽ bởi từng học sinh. Các em có toàn quyền tự do mô tả người đó thích gì và cách các em nhìn nhận người bạn của mình.

2. Đ𝐞̂̀ 𝐜𝐚𝐨 𝐬𝐮̛̣ 𝐬𝐚́𝐧𝐠 𝐭𝐚̣𝐨, 𝐚̆𝐧 𝐦𝐮̛̀𝐧𝐠 𝐯𝐚̀ 𝐤𝐡𝐞𝐧 𝐭𝐡𝐮̛𝐨̛̉𝐧𝐠. Ví dụ lớp học: Học sinh lớp 3 học về hình đa giác và để thử xem các em có hiểu khái niệm này không, giáo viên dẫn các em ra ngoài và đưa phấn cho từng học sinh. Mỗi em được giao bài tập là vẽ các ví dụ khác nhau về hình đa giác trên đường.

Khi nhiệm vụ hoàn thành, giáo viên yêu cầu học sinh chuyển đổi những hình dạng này thành những thứ mà các em yêu thích. Các em sẽ muốn giới thiệu đến mọi người những chú mèo con, robot, và rồng dựa trên hình học và sau đó, khi có cơ hội, chúng có thể giải thích cho cả lớp rằng tại sao các em lại thích những thứ này.

3. 𝐃𝐚̣𝐲 𝐡𝐨̣𝐜 𝐬𝐢𝐧𝐡 𝐧𝐡𝐮̛̃𝐧𝐠 𝐤𝐲̃ 𝐧𝐚̆𝐧𝐠 𝐤𝐡𝐚́𝐜 𝐦𝐚̀ 𝐜𝐚́𝐜 𝐞𝐦 𝐜𝐚̂̀𝐧 đ𝐞̂̉ 𝐬𝐚́𝐧𝐠 𝐭𝐚̣𝐨. Ví dụ: Học sinh lớp 2 học về khái niệm đóng băng. Giáo viên hỏi một câu hỏi để bắt đầu “Có phải chỉ có mỗi nước mới đóng băng không?” Học sinh sẽ tự thiết kế thí nghiệm để xác định những thứ khác cũng đóng băng. Giới hạn đặt ra là chúng chỉ được sử dụng những gì có trong lớp học tại thời điểm đó.

Học sinh sẽ liệt kê ra một danh sách mà chúng muốn thử nghiệm đóng băng: nước tinh khiết, nước ép, giấm, hồ dán, nước lau kiếng, kem đánh răng, và giấy. Một số thứ các em quyết xuất vốn là thể rắn và không nên để ra ngoài: bút chì, tẩy và sách (nhưng giấy thì vẫn nằm trong danh sách thử nghiệm). Ngày tiếp theo, các em thảo luận về những phát hiện và có những cuộc trò chuyện hấp dẫn về lý do tại sao tờ giấy thì cứng và giấm thì không đông lại.

Cuộc thảo luận ban đầu giữa học sinh về cái gì có thể đóng băng thúc đẩy kỹ năng biện luận cho ý kiến của một người, hoặc thỏa hiệp. Cuộc thảo luận sau đó khuyến khích suy luận diễn dịch và sự chủ động lắng nghe.

4. 𝐗𝐨́𝐚 𝐛𝐨̉ 𝐧𝐡𝐮̛̃𝐧𝐠 𝐫𝐚̀𝐧𝐠 𝐛𝐮𝐨̣̂𝐜 đ𝐨̂́𝐢 𝐯𝐨̛́𝐢 𝐬𝐮̛̣ 𝐬𝐚́𝐧𝐠 𝐭𝐚̣𝐨 𝐯𝐚̀ 𝐜𝐡𝐨 𝐡𝐨̣𝐜 𝐬𝐢𝐧𝐡 𝐤𝐡𝐨̂𝐧𝐠 𝐠𝐢𝐚𝐧 𝐯𝐚̀ 𝐤𝐡𝐮𝐧𝐠 𝐬𝐮̛𝐨̛̀𝐧 đ𝐞̂̉ 𝐜𝐚́𝐜 𝐞𝐦 𝐜𝐨́ 𝐭𝐡𝐞̂̉ 𝐬𝐚́𝐧𝐠 𝐭𝐚̣𝐨. Ví dụ lớp học: Học sinh lớp 6 sản xuất vở kịch hóa trang Halloween. Để mặc trang phục hóa trang đến trường, các học sinh phải viết vở kịch mà phải kết hợp từng nhân vật thành một kịch bản và sau đó trình diễn vở kịch. Ví dụ, chúng phải nghĩ ra cách một lon nước ngọt khổng lồ và nữ siêu anh hùng Wonder Woman sẽ tương tác với nhau như thế nào. Học sinh rất yêu thích thử thách này.

𝐂𝐡𝐮́𝐧𝐠 𝐭𝐚 𝐡𝐨̣𝐜 𝐛𝐚̆̀𝐧𝐠 𝐜𝐚́𝐜𝐡 𝐭𝐡𝐮̛̣𝐜 𝐡𝐚̀𝐧𝐡
Sự tưởng tượng và tính sáng tạo là những đặc tính thúc đẩy tương lai. Cả hai điều này đều nhằm mục đích để truyền cảm hứng cho học sinh và cần được tích hợp vào mọi phần của tiến trình học tập. Để lên kế hoạch và thiết kế môn học cho học sinh, chúng ta cần biết: Dạy học sinh cách nghĩ như thế nào quan trọng hơn là nghĩ về cái gì.


Tác giả: Ben Johnson
Nguồn: Edutopia.org 
𝑉𝑖𝑒̣̂𝑛 𝐼𝑅𝐸𝐷 𝑙𝑢̛𝑜̛̣𝑐 𝑑𝑖̣𝑐ℎ.
Sự sáng tạo là một kỹ năng quý giá, và có rất nhiều chiến lược mà giáo viên có thể dùng để giúp học sinh phát triển kỹ năng này.
Sự sáng tạo là kỹ năng tư duy khó để đạt được nhất, và đây cũng là kỹ năng được tìm kiếm nhiều nhất. Chúng ta đánh giá nó qua âm nhạc, giải trí, công nghệ và những khía cạnh khác trong sự tồn tại của chúng ta. Chúng ta đánh giá cao và khao khát vì nó làm phong phú thêm sự hiểu biết của chúng ta và khiến cuộc sống dễ dàng hơn.
Sự sáng tạo luôn bắt đầu bằng trí tưởng tượng, và lịch sử đã chỉ ra rằng có rất nhiều thứ đã được tạo ra từ sự tưởng tượng. Gene Roddenberry từng tưởng tượng các thiết bị giao tiếp lật trong phim Star Trek vào năm 1966, và Motorola đã sản xuất ra chúng vào năm 1996. Vào giữa những năm 1800, Augusta Ada King đã hình dung ra một ngôn ngữ cho các máy tính thậm chí còn chưa tồn tại; ngày nay bà ấy được vinh danh là người sáng lập ra ngôn ngữ lập trình hiện đại.
Khi Benjamin Bloom xác định cái mà ông gọi là hệ phân tầng các loại tư duy, ông đã xếp tổng hợp (sáng tạo) là một trong những kỹ năng khó thành thạo nhất vì một người phải sử dụng tất cả các kỹ năng tư duy khác trong quá trình sáng tạo. Kể từ đó, theo Bloom, sáng tạo là trật tự cao nhất của tư duy, nó phải được đặt lên hàng đầu trong tất cả các môi trường học tập và là mục tiêu cuối cùng. Khi mà học sinh tạo ra những gì chúng tưởng tượng, chúng đang ở vị trí kiểm soát.
𝐒𝐮̛̣ 𝐬𝐚́𝐧𝐠 𝐭𝐚̣𝐨 𝐭𝐫𝐨𝐧𝐠 𝐥𝐨̛́𝐩 𝐡𝐨̣𝐜
Khi thiết kế trải nghiệm học tập, giáo viên có thể lập kế hoạch, khung chương trình giảng dạy và cung cấp các công cụ để cho học sinh quyền lựa chọn và đưa ra tiếng nói của mình để khuyến khích chúng sáng tạo. Trong công việc tại trường, tôi đã tìm ra được bốn điều mà những giáo viên thực hiện thành công để phát triển sự sáng tạo cho học sinh của họ.
1. 𝐓𝐚̣𝐨 𝐝𝐮̛̣𝐧𝐠 𝐧𝐡𝐮̛̃𝐧𝐠 𝐡𝐨𝐚̣𝐭 đ𝐨̣̂𝐧𝐠 𝐡𝐨̣𝐜 𝐭𝐚̣̂𝐩 𝐜𝐡𝐨 𝐩𝐡𝐞́𝐩 𝐡𝐨̣𝐜 𝐬𝐢𝐧𝐡 𝐤𝐡𝐚́𝐦 𝐩𝐡𝐚́ 𝐬𝐮̛̣ 𝐬𝐚́𝐧𝐠 𝐭𝐚̣𝐨 𝐛𝐚̆̀𝐧𝐠 𝐧𝐡𝐮̛̃𝐧𝐠 𝐜𝐚́𝐜𝐡 𝐩𝐡𝐮̀ 𝐡𝐨̛̣𝐩, 𝐭𝐡𝐮́ 𝐯𝐢̣ 𝐯𝐚̀ 𝐜𝐨́ 𝐠𝐢𝐚́ 𝐭𝐫𝐢̣. Ví dụ lớp học: Học sinh lớp 4 được giới thiệu một mẫu đá. Các em phải đưa ra cách kiểm tra để xác định loại đá dựa trên những định nghĩa mà các em đã học. Học sinh sẽ tìm cách riêng của mình để chỉ ra sự khác biệt về độ cứng, màu sắc và hình dạng.
Một ví dụ khác: Một lớp mẫu giáo sáng tạo một cuốn sách minh họa mới mỗi tuần để chúc mừng các thành viên khác nhau của lớp hoặc một người lớn trong trường. Mỗi cuốn sách là những trang được vẽ bởi từng học sinh. Các em có toàn quyền tự do mô tả người đó thích gì và cách các em nhìn nhận người bạn của mình.
2. Đ𝐞̂̀ 𝐜𝐚𝐨 𝐬𝐮̛̣ 𝐬𝐚́𝐧𝐠 𝐭𝐚̣𝐨, 𝐚̆𝐧 𝐦𝐮̛̀𝐧𝐠 𝐯𝐚̀ 𝐤𝐡𝐞𝐧 𝐭𝐡𝐮̛𝐨̛̉𝐧𝐠. Ví dụ lớp học: Học sinh lớp 3 học về hình đa giác và để thử xem các em có hiểu khái niệm này không, giáo viên dẫn các em ra ngoài và đưa phấn cho từng học sinh. Mỗi em được giao bài tập là vẽ các ví dụ khác nhau về hình đa giác trên đường.
Khi nhiệm vụ hoàn thành, giáo viên yêu cầu học sinh chuyển đổi những hình dạng này thành những thứ mà các em yêu thích. Các em sẽ muốn giới thiệu đến mọi người những chú mèo con, robot, và rồng dựa trên hình học và sau đó, khi có cơ hội, chúng có thể giải thích cho cả lớp rằng tại sao các em lại thích những thứ này.
3. 𝐃𝐚̣𝐲 𝐡𝐨̣𝐜 𝐬𝐢𝐧𝐡 𝐧𝐡𝐮̛̃𝐧𝐠 𝐤𝐲̃ 𝐧𝐚̆𝐧𝐠 𝐤𝐡𝐚́𝐜 𝐦𝐚̀ 𝐜𝐚́𝐜 𝐞𝐦 𝐜𝐚̂̀𝐧 đ𝐞̂̉ 𝐬𝐚́𝐧𝐠 𝐭𝐚̣𝐨. Ví dụ: Học sinh lớp 2 học về khái niệm đóng băng. Giáo viên hỏi một câu hỏi để bắt đầu “Có phải chỉ có mỗi nước mới đóng băng không?” Học sinh sẽ tự thiết kế thí nghiệm để xác định những thứ khác cũng đóng băng. Giới hạn đặt ra là chúng chỉ được sử dụng những gì có trong lớp học tại thời điểm đó.
Học sinh sẽ liệt kê ra một danh sách mà chúng muốn thử nghiệm đóng băng: nước tinh khiết, nước ép, giấm, hồ dán, nước lau kiếng, kem đánh răng, và giấy. Một số thứ các em quyết xuất vốn là thể rắn và không nên để ra ngoài: bút chì, tẩy và sách (nhưng giấy thì vẫn nằm trong danh sách thử nghiệm). Ngày tiếp theo, các em thảo luận về những phát hiện và có những cuộc trò chuyện hấp dẫn về lý do tại sao tờ giấy thì cứng và giấm thì không đông lại.
Cuộc thảo luận ban đầu giữa học sinh về cái gì có thể đóng băng thúc đẩy kỹ năng biện luận cho ý kiến của một người, hoặc thỏa hiệp. Cuộc thảo luận sau đó khuyến khích suy luận diễn dịch và sự chủ động lắng nghe.
4. 𝐗𝐨́𝐚 𝐛𝐨̉ 𝐧𝐡𝐮̛̃𝐧𝐠 𝐫𝐚̀𝐧𝐠 𝐛𝐮𝐨̣̂𝐜 đ𝐨̂́𝐢 𝐯𝐨̛́𝐢 𝐬𝐮̛̣ 𝐬𝐚́𝐧𝐠 𝐭𝐚̣𝐨 𝐯𝐚̀ 𝐜𝐡𝐨 𝐡𝐨̣𝐜 𝐬𝐢𝐧𝐡 𝐤𝐡𝐨̂𝐧𝐠 𝐠𝐢𝐚𝐧 𝐯𝐚̀ 𝐤𝐡𝐮𝐧𝐠 𝐬𝐮̛𝐨̛̀𝐧 đ𝐞̂̉ 𝐜𝐚́𝐜 𝐞𝐦 𝐜𝐨́ 𝐭𝐡𝐞̂̉ 𝐬𝐚́𝐧𝐠 𝐭𝐚̣𝐨. Ví dụ lớp học: Học sinh lớp 6 sản xuất vở kịch hóa trang Halloween. Để mặc trang phục hóa trang đến trường, các học sinh phải viết vở kịch mà phải kết hợp từng nhân vật thành một kịch bản và sau đó trình diễn vở kịch. Ví dụ, chúng phải nghĩ ra cách một lon nước ngọt khổng lồ và nữ siêu anh hùng Wonder Woman sẽ tương tác với nhau như thế nào. Học sinh rất yêu thích thử thách này.
𝐂𝐡𝐮́𝐧𝐠 𝐭𝐚 𝐡𝐨̣𝐜 𝐛𝐚̆̀𝐧𝐠 𝐜𝐚́𝐜𝐡 𝐭𝐡𝐮̛̣𝐜 𝐡𝐚̀𝐧𝐡
Sự tưởng tượng và tính sáng tạo là những đặc tính thúc đẩy tương lai. Cả hai điều này đều nhằm mục đích để truyền cảm hứng cho học sinh và cần được tích hợp vào mọi phần của tiến trình học tập. Để lên kế hoạch và thiết kế môn học cho học sinh, chúng ta cần biết: Dạy học sinh cách nghĩ như thế nào quan trọng hơn là nghĩ về cái gì.
Tác giả: Ben Johnson
Nguồn: Edutopia.org 
𝑉𝑖𝑒̣̂𝑛 𝐼𝑅𝐸𝐷 𝑙𝑢̛𝑜̛̣𝑐 𝑑𝑖̣𝑐ℎ.
CÁC TIN KHÁC CÙNG DANH MỤC

Những bài báo nghiên cứu, bài viết, bài dịch và sách, phim do Viện IRED
sưu tầm và giới thiệu xoay quanh đề tài giáo dục và quản lý giáo dục.

© 2022 Viện Giáo dục IRED